THƯ VỀ TRƯỜNG CŨ
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 1995
Thưa các thầy, các cô
Các bạn học sinh thân mến!
Là học sinh cũ của trường, em xin phép các thầy, các cô và các bạn được nói lên cảm nghĩ của mình sau 27 năm ngồi ghế nhà trường cấp III Thường Xuân.
Nhớ lại ngày nào, mấy thầy trò đeo dao, men theo bờ sông đi về phía thượng nguồn tìm nơi dựng trường, em tin chắc nhiều thầy, nhiều cô và nhiều bạn đang công tác và học tại trường hiện nay chưa một lần đặt chân tới mảnh đất sinh ra trường cấp III Thường Xuân. Hình ảnh thầy Nhâm, thầy Thanh, thầy Tại, thầy Đào, thầy Lễ, thầy Sinh, thầy Cừ, thầy Chương, thầy Phương, thầy Lân, thầy Thạnh, thầy Chản, thầy Hùng… đang nhộn nhịp trên công trường xây dựng còn in rõ trong trí nhớ của em.
Ba mươi năm trước, đồi làng Nhân đang là nơi hoang vu bỗng nhiên sôi động bởi tiếng chặt cây, tiếng cuốc xẻng, tiếng hò hát của thầy và trò. Em gọi công trường xây dựng cho nó oai, chứ làm gì có bản thiết kế xây dựng. Thầy trò là kiến trúc sư, là thợ, là sơn tràng và đôi khi trở thành “pháo thủ kéo pháo” những cây gỗ to, dài thầy trò không xúm nhau buộc dây kéo về thì lấy đâu ra nguyên vật liệu; nhiều khi thầy vừa là người chỉ huy vừa là người hò bắt nhịp, hò dô ta nào, một hai ba này, cứ như thế nối tiếp nhau bất kể cây gỗ từ rừng sâu từ từ tiến về công trường, gỗ, nứa, vầu được các thầy và học sinh quy tụ lại ngày càng nhiều, cánh thợ mộc nghiệp dư, dụng cụ chủ yếu là rìu và dao; cưa hầu như không cần; đục chàng sau này mới xuất hiện. Cũng may khi ấy, nguồn vật liệu quanh đấy còn nhiều, có đôi khi đi xa lên đến dốc làng Lại, dốc ông Mỹ, dưới chân đồi về phía làng Lại, có con suối cạn đổ ra sông bỗng nhiên thành bến cảng, thành bãi tắm và nơi cung cấp nước cho công trường, bến cảng càng trở nên nhộn nhịp khi các khung nhà được dựng lên. Bến cảng tiếp nhận nứa vầu từ làng Lai chuyển về những bè lớn nứa, lá kè, lá cọ từ Xuân Khao, Yên Nhân xuôi về cập bến. Chẳng mấy chốc 4 dãy nhà đầu tien được mọc lên bởi công sức của thầy và trò. Tội nghiệp con nai ngơ ngác, gặm cỏ giữa thung. Có lẽ nó vẫn nhớ nơi từng dạo chơi, từng thong thả gặm cỏ ngày nào chăng? Khi trường đã dựng lên có người ở, đôi khi thầy trò còn bắt gặp các chú nai ngơ ngác dạo quanh sân trường, đôi khi sáng dậy còn phát hiện dấu chân của chúng đi vào bếp.
Kỹ sư trưởng là thợ cả của công trường là thầy Đào. Thầy cùng với một số thầy khác trong ban chỉ huy nhưng thầy cũng là người thợ cả. Lúc nào thầy cũng có bút chì dắt tai. Người tay hòm, chìa khóa là thầy Sinh, anh Ngôn là trợ lý đặc lực cho thầy. Nói kho lương thực cho nó oai chứ thực ra đó chỉ là nơi thu gom những cái có thể nuôi sống con người: từ gạo, sắn khô, sắn tươi, ngô, khoai lang do học sinh xin được của gia đình có cái gì đem nộp cái ấy. Cơm nấu vào trong một cái chảo to đùng, đũa cả là một cái xẻng cán dài, vung là những chiếc bì gai giặt sạch, nhúng nước và đậy lại. Nhiều khi cơm không phải là cơm độn, mà là cơm thập cẩm. Thức ăn chủ lực là mắm loại rẻ tiền và hâu như quanh năm là canh sắn tươi, mùa măng thì canh măng thay cho canh sắn. Mỗi tháng học sinh đóng 15 kg lương thực và 3 đồng. Tuy tiền đóng ít nhưng cuối năm vẫn tiết kiệm được để mua lợn hoặc bò về liên hoan. Anh chị nào muốn ăn thêm thì đem muối vừng, muối lạc, muối ngô, muối gạo, nhiều khi công trường đang sôi động thì được thầy Sinh thông báo “rắn rào”, đã bò vào kho lương thực nên các em được nghỉ 3 ngày để về nhà xin gạo. Có anh, có chị mỗi lần về chỉ xin được 4–5 kg lương thực. Tuy xin được ít nhưng khi lên trường hầu như học sinh nào cũng bớt lại 1–2 bơ gạo để nấu ăn thêm. Đói, đói triền miên nên học sinh cũng nghĩ ra nhiều trò ma quái. Anh chị nào có gạo nếp thì ra rừng chặt nứa bỏ gạo vào lam, anh nào để gạo tẻ lại thì hơi gay go, phải đi tìm được ống sữa bò mới nấu cơm được, nầu trong gầm giường. Tuy nấu cơm bí mật như vậy nhưng đôi khi cũng bị đội cơ đỏ phát hiện và tịch thu. Nói như ngôn ngữ bây giờ thì rau xanh hãy quên đi – lấy đâu ra rau xanh? Đến như rau tàu bay hoang dại lúc đầu được thu hái về luộc sau này nó trở thành rau sống.
Chỗ ở với thời điểm ấy là tốt nhưng so với bây giờ thì quá ư là lạc hậu. Lúc đó, nước sinh hoạt khó khăn, không đảm bảo vệ sinh, ăn ở chật chội nên hầu hết học sinh đều được mặc “quần áo hoa gấm” đôi khi được thưởng thêm hắc lào. Một hoặc hai người chung nhau một ống nước (gồm 3–4 dóng của cây nứa) để đánh răng, rửa mặt.
Ai đã từng giảng dạy, học tập ở trường cấp 3 lúc bấy giờ cũng không quên được dốc làng Lại, dốc ông Mỹ – nơi cung cấp nguyên vật liệu làm trường, nơi cung cấp tài chính để gây quỹ trường và chi phí cho học tập, đóng tiền ăn và mua sắm, kể cũng tội, nhiều thầy và học sinh từ miền xuôi lên cũng bị lôi cuốn vào đội quân sơn tràng: Lần đầu tiên trong đời, cứ chọn cây nứa, vầu to mà chặt và đẩy gốc ngược Lần đầu tiên trong đời vào rừng, cứ chọn cây nứa, vầu to mà chặt và đẩy gốc ngược lên về phía ngọn đồi, lơi kéo không được thì dùng tay rút ngọn xuống, nhiều ngọn vầu, nứa bị dập thế là bị chảy máu.
Một ấn tượng lớn là khi chuyển bàn ghế từ sông (gần giáp đập Bái Thượng) về trường, toàn trường được huy động vào đội quân cứu vạn. Cái khổ là làm thế nào để tránh được giờ cao điểm hoạt động của máy bay bay giặc Mỹ và không xảy ra tai nạn trong khi vận chuyển, nhất là đưa bàn ghế từ sông sang bãi Thọ Thanh. Đoàn quân kéo về làng Thọ Thanh chờ sẵn gần tối mới đưa quân ra bãi sông để vận chuyển. Một bộ phận sang sông trước, nhưng phải chờ khi mặt trời vàng vọt mới chuyển bàn ghế sang sông. Hai người một cặp buộc ghế bơi lại với nhau và khiêng về tới trường, về tới nhà trời đã quá khuya...
Thưa các thầy, các cô và các bạn, khi cầm bút viết lại những kỷ niệm trên em cảm thấy nó mới xảy ra cách đây vài tuần. Em biết có một số thầy cô hiện đang về nghỉ hưu, được tham gia từ đầu đến cuối hoặc giảng dạy một phần công việc trên, nhưng thực ra những diễn biến trên đã xảy ra 30 năm về trước.
Ba mươi năm đã trôi qua, nhiều thầy đã về hưu hoặc chuyển, có người khác đã có chức vụ cao hơn. Nhiều học sinh khóa đầu đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường hoặc gửi lại một phần thân thể ngoài mặt trận để góp phần đưa cuộc sống hôm nay bình yên hơn; nhiều học sinh đang giữ các chức vụ cao ở các cơ quan trung ương và địa phương, nhiều học sinh nay đã trở thành thầy cô đang tiếp tục sự nghiệp trồng người.
Là một trong số học sinh khóa đầu tiên của trường, được thầy cô chắp cánh, đang làm việc tại một cơ quan trung ương, em xin phép các thầy, các cô và các bạn học sinh được ghi lại vài ấn tượng buổi ban đầu và với nỗi tay ôm ấp của cha mẹ, bước vào cuộc sống tự lập tại Trường cấp III Thường Xuân khi mới hình thành.
Em mạn phép nói lên tâm trạng của em lúc này bằng hai câu:
“ Sống Hà Nội nhớ cảnh rừng
Nhà cao cửa rộng nhớ từng mảnh trăng”
Em xin phép các thầy, các cô và các bạn được tạm dừng bút và xin chúc các thầy, các cô cùng toàn thể các bạn luôn luôn mạnh khỏe và đạt được nhiều thành tích trong giảng dạy và học tập.
ĐỖ THANH CHÂN
(Học sinh khóa 1 của trường)